
Trung y coi Tam tiêu “đường ống dẫn khí-thủy”, không có hình thể, nhưng có 3 chức năng vô cùng quan trọng:
- Hành khí (vận hành nguyên khí)
- Hành thủy (điều tiết tân dịch)
- Hóa thực (tiêu hóa, hấp thụ thực phẩm)
Mô tả về Tam tiêu trong các sách cổ như sau:
“Tam tiêu giả, quyết đục chi quan, thủy đạo xuất yên” – trích dẫn Hoàng Đế Nội kinh. Giải nghĩa: Tam tiêu như quan lớn quản lý hệ thống cống dẫn nước toàn thân. Thủy dịch (tân dịch, huyết tương …) xuất phát và lưu thông nhờ tam tiêu.
“Tam tiêu giả, nguyên khí chi biệt sứ dã, chủ thông hành tam khí, kinh lịch ngũ tạng lục phủ.” – Trích dẫn Nan Kinh. Giải nghĩa: Nguyên khí (khí tiên thiên từ thận) phân công cho tam tiêu làm “sứ giả riêng” để vận hành, thông hành tam khí (Tam khí bao gồm: Tông khí, Dinh khí, Vệ khí) . Tam tiêu xuyên suốt 5 tạng ( bao gồm: tim-gan-tỳ-phế-thận) và 6 phủ (đởm-vị-tiểu trường-đại trường-bàng quang-tam tiêu).
Vậy nếu tam tiêu thông thì thủy dịch lưu, không thấp uất, không phù nề. Nếu “trệ” thì thấp tà tích tụ, sinh bách bệnh (phù thũng, viêm khớp, mệt mỏi).
Như vậy muốn Dưỡng Sinh thì phải : Thông Tam tiêu
Tìm hiểu Tam Tiêu là những “tiêu” nào?
Tam Tiêu (三焦) được chia thành ba tầng (thượng – trung – hạ), như ba lò luyện đan điều phối khí hóa và thủy dịch toàn thân.
1) Thượng Tiêu:
Vị trí: Từ đỉnh đầu trở xuống đến ngang cơ hoành (bao gồm đầu, cổ, ngực, tim, phổi).
Sách xưa mô tả “Thượng tiêu như vụ” ý nói phún hóa tân dịch như sương mù phủ khắp thân, nuôi dưỡng da cơ, khai khiếu (mắt, tai, mũi).
Nếu Thượng tiêu “thông” thì thần thanh khí sảng, da dẻ hồng hào; nếu “trệ” thì ho hen, đầu choáng, cảm mạo.
2) Trung Tiêu:
Vị trí: Từ cơ hoành đến ngang rốn (bao gồm bụng trên, tỳ, vị, gan, mật).
Sách xưa mô tả Thượng tiêu “Như trần nạp” hoặc “Như âu” ý nói như bọt, sôi động, chuyển hóa., thấm ủ và chứa đựng. ( được ghi trong Hoàng Đế Nội Kinh)
Cách thức của Trung Tiêu là chậm rãi, thấm sâu, hóa sinh – không mạnh mẽ như thượng tiêu (phún vụ), không bài xuất như hạ tiêu (quyết đục) và cũng mềm mại, chứa đựng, nuôi dưỡng – nhấn mạnh “tỳ chủ vận hóa, vị chủ nạp thực”. ( ý nói hệ tiêu hoá bao gồm dạ dầy, ruột non, gan, tuỵ .. vừa có chức năng chứa đựng thức ăn vừa, vận chuyển, tiêu hoá).
Nếu Trung tiêu “thông” sẽ ăn ngon, khí huyết đầy; nếu “trệ” sẽ đầy bụng, khó tiêu, ợ chua.
3) Hạ Tiêu
Vị trí: Từ dưới rốn đến bàn chân (bao gồm bụng dưới, thận, bàng quang, đại trường, tiểu trường, sinh dục).
Sách xưa nói Hạ tiêu “Như quyết đục” ý nói như cống rãnh lớn – hình ảnh hạ tiêu dẫn đạo, bài xuất phế trọc. Chức năng của Hạ tiêu là phân thanh trọc (phân biệt trong-đục), thông điều thủy đạo như cống rãnh dẫn nước, bài xuất phế vật (phân, tiểu).
Nếu Hạ tiêu “thông” thì tiểu tiện thông, đại tiện điều hoà, chân nhẹ; nếu “trệ ” phù nề, táo bón, thận hư.
Cách luyện tập để thông “Tam tiêu”
Muốn “Tam tiêu” thông có nhiều cách, trong đó có tập luyện khí công:
- Về Thượng Tiêu: Nên luyện tập tay nhẹ nhàng phóng khoáng, đưa đẩy xa gần, nội vận động vai ngực cổ kết hợp với hít thở (2 huyệt chính là Lao cung và Đản trung)
- Về Trung tiêu: Xoay eo, vặn eo, xoa bụng … ( 2 huyệt chính là Trung Quản và Chương môn)
- Về Hạ tiêu: Tập hạ bàn: bàn chân, đùi, nhấc hông…. (huyệt chính là Dũng tuyền, Hội âm, Khí hải)
Những dấu hiệu Tam tiêu được thông:
Thượng tiêu thông:
- Đầu óc tỉnh táo, mắt sáng, tai nghe rõ.
- Hô hấp sâu, ngực nhẹ, không tức ngực.
- Da mặt hồng hào, lưỡi đỏ tươi.
Trung tiêu thông:
- Ăn ngon, tiêu hóa tốt, bụng ấm không đầy.
- Khí lực dồi dào, đan điền ấm áp.
- Mạch trầm hoãn hữu lực. ( mạch sâu – chậm thư thái – mạnh mẽ)
Hạ tiêu thông:
- Tiểu tiện thông sướng, nước trong dài.
- Đại tiện điều hòa (1-2 lần/ngày, phân thành hình).
- Chân nhẹ, lưng khỏe, không phù thũng.
Tóm lại: Vì Tam Tiêu là trung tâm điều hòa khí – thủy – thực của cơ thể, muốn dưỡng sinh hiệu quả, điều quan trọng nhất là phải thông Tam Tiêu: để khí huyết lưu thông, tân dịch cân bằng, cơ thể nhẹ nhàng và khỏe mạnh từ trong ra ngoài.
(Nguồn: sưu tầm)