Thế nào là Trạm Trang?
Trạm trang: Nghĩa là thân thể đứng yên không động như cọc gỗ (mộc trang), mục đích nhằm đạt được sự vững chãi, có gốc rễ như cọc gỗ, chứ không phải là đứng yên ngây ngốc. Đây là một bộ phận trọng yếu trong hệ thống võ thuật Trung Quốc. Trong các lưu phái võ thuật qua các đời, nó đều được người tập võ coi trọng, như Mã Bộ Trang, trong Thiếu Lâm võ thuật và một số quyền phái Nam phái, đã được xem như một loại huấn luyện cơ bản. Có câu “Vị tập quyền, tiên trạm tam niên trang” (Chưa học quyền vội, trước hết đứng trang ba năm), trong nội gia quyền, đặc biệt là Hình Ý quyền, có thuyết “Vạn pháp nguyên vu Tam Thể thức” (Muôn pháp đều bắt nguồn từ Tam Thể thức), còn ở một số quyền phái trẻ hơn như Đại Thành quyền, Lô thức kết cấu, thì Trạm Trang còn được đẩy lên địa vị không gì sánh bằng.
Phương pháp luyện tập Trạm Trang
Tôi tin rằng mọi người đều đã thấy, đã nghe, thậm chí đã luyện qua Trạm Trang, nhưng phần đông mọi người chỉ biết hình dáng bề ngoài, những hiện tượng bề mặt của nó. Kỳ thực Trạm Trang rất chú trọng đến phần mà mắt chúng ta không nhìn thấy, đó chính là phương pháp. Trạm Trang chủ yếu lấy thân thể trung chính, song thủ bão viên, làm một tư thế đứng. Vì vậy, ở phía dưới tôi sẽ chia sẻ với mọi người cách đứng Trạm Trang, bằng văn tự để giảng giải.
Thập chỉ trảo địa: cái gọi là thập chỉ trảo địa, tức là mười ngón chân khẽ cào xuống mặt đất, nghĩa là khớp của mỗi ngón chân đều hơi cong lại. Nhưng chúng ta thường nói “dụng ý bất dụng lực”, vậy thì chúng ta dùng ý thức để đưa cái kình này, tức là hướng xuống đất mà sinh căn, đâm xuống dưới, giống như cây đại thụ, đem cái rễ này đâm xuống, dùng ý thức của chúng ta, chứ không phải dùng sức lực, cho nên chúng ta cố gắng giữ cho cơ bắp được thả lỏng.
Về việc hai chân hơi cong (vi khúc): Kỳ thực trong quá trình luyện tập Trạm Trang của chúng ta, mỗi một khớp xương trên thân thể đều giữ trạng thái vi khúc (hơi cong). Đối với hai đầu gối, vì chúng kết nối với hạ tiêu của chúng ta, nên đầu gối được tách riêng ra để nói về song thối vi khúc (không được cong vượt quá mũi chân). Cái gọi là vi khúc, tức là trên cơ sở đứng thẳng, hơi cong một chút, nghĩa là giữ một trạng thái hơi cong nhẹ, nó không yêu cầu chúng ta ngồi xuống cúi gập thật sâu, nhưng cũng không được duỗi thẳng. Khi chúng ta đứng chân rất thẳng; hoặc khi chúng ta ngồi cúi quá cong, thì xương cốt ở một mức độ nhất định sẽ ảnh hưởng đến mao mạch của chúng ta, ảnh hưởng đến sự vận hành của khí huyết. Vì vậy, trong yếu lĩnh của mỗi động tác, bao gồm cả thập chỉ trảo địa đã nói ở trên, mỗi một khớp xương đều phải giữ trạng thái vi khúc.
Về toạ (ngồi) và khoá (vùng hông): Khoá (vùng hông) chiếm một vị trí vô cùng chủ yếu trên toàn bộ cơ thể chúng ta, bởi vì đoạn giữa của toàn bộ thân thể kết nối với phần chân chủ yếu dựa vào Khoá. Bình thường chúng ta cũng hay nói: “Trung chính an thư” (thân thể ngay thẳng, tâm thái an nhiên thả lỏng). Như vậy, phần thân trên của chúng ta muốn giữ được trung chính, thì khoá không thể lắc lư sang trái xoay sang phải, cho nên phải thực hiện Tọa khoá (ngồi hông). Khoá phải tìm được cảm giác hạ trầm, cảm giác ngồi (tọa), giống như đang ngồi trên một chiếc ghế vậy.
Mà khoá lại là nơi dễ xuất hiện vấn đề nhất: hoặc là hướng về phía trước đẩy ra (tiền đỉnh), hoặc là vểnh ra phía sau (hậu kiều), hoặc là lắc sang trái (tả dao), hoặc là lắc sang phải (hữu bài). Cho nên lực của khoá không thể hướng về bốn phía này, lực của khoá chỉ có thể hướng xuống dưới. Chỉ khi khoá thực sự hướng xuống dưới, phần thân trên của chúng ta mới có thể duy trì trạng thái trung chính. Nếu như thân trên của chúng ta có bất kỳ sự lắc lư, nghiêng bên trái ngả bên phải, tiền phủ hậu ngưỡng (cúi về trước ưỡn về sau) nào, thì vấn đề nhất định là nằm ở khoá.
Thả lỏng eo/thắt lưng(Tùng yêu): “Kỳ căn tại cước, phát lực vu thối, chủ tể vu yêu, hành vu thủ chỉ” (Gốc rễ ở chân, phát lực ở đùi, chủ tể ở eo, thể hiện ra ở ngón tay). Do đó, vùng eo của chúng ta là một phần vô cùng then chốt trong toàn bộ quá trình luyện tập. Vì vậy trong Trạm Trang, yếu lĩnh đối với vùng eo chính là Tùng yêu, tức là đem vùng eo của chúng ta thả lỏng hoàn toàn. Toàn bộ vận động của tứ chi, vận động ở chân và vận động ở tay của chúng ta đều thông qua vùng eo mà kết nối lại với nhau. Cho nên vùng eo của chúng ta ở bất kỳ thời điểm nào cũng đều duy trì trạng thái thả lỏng, không dùng lực. Khi vùng eo của chúng ta thả lỏng xuống, phần eo sẽ hơi phình nhẹ ra phía sau, đồng thời bụng dưới sẽ hơi thu nhẹ vào trong một chút, nhưng lưu ý bụng dưới phải giữ được sự thả lỏng. Đôi khi đến giai đoạn Tùng yêu, hoặc trong quá trình Trạm Trang, phần bụng dưới và vùng eo của chúng ta lại vô thức bị căng cứng lên.
Trầm vai hạ chỏ (Trầm kiên trụy trửu): Trong quá trình luyện tập, rất coi trọng sự “Nhất khí ha thành” (liền mạch một hơi). Phần trên và phần dưới gắn kết và đi liền với nhau, đây là một quy tắc vô cùng quan trọng trong quá trình luyện tập. Vậy làm sao để động tác của tay và động tác của thân thể chúng ta kết nối liền mạch thành một khối? Trầm kiên và Trụy trửu chính là điều không thể thiếu!
Trầm kiên chính là đem vùng vai thả lỏng hoàn toàn. Còn về Trụy trửu, trong quá trình Trạm Trang, nhiều người lại cố ý ép khuỷu tay (chỏ) rủ gập xuống dưới, nhưng thực tế làm như vậy tuy chỏ của bạn có trụy xuống thật, nhưng lại làm gãy cổ tay. Cho nên trong trạng thái bình thường của chúng ta, khuỷu tay dù cho có đặt rất cao hay đặt rất thấp, nó đều phải giữ được một cảm giác chỏ đang trầm xuống và trút xuống phía dưới. Đây cũng chính là trạng thái “Dụng ý bất dụng lực” mà chúng ta thường hay nhắc tới, chứ không nhất thiết cứ phải ép khuỷu tay rủ hẳn xuống như thế mới đúng.
Hổ khẩu căng tròn, mười ngón tay dẫn kình (Hổ khẩu băng viên, thập chỉ dẫn kình): Về phần tay, chúng ta nói đến Hổ khẩu (vùng kẽ giữa ngón cái và ngón trỏ), Hổ khẩu băng viên, thập chỉ dẫn kình (Hổ khẩu căng tròn, mười ngón tay dẫn kình). Tương tự như quy tắc Thập chỉ trảo địa đã nói ở trên — kình phải thẩm thấu xuống tận lòng đất — thì trên tay chúng ta cũng phải thông qua các ngón tay, giữ cho mỗi một khớp ngón tay đều ở trạng thái vi khúc (hơi gập nhẹ), sau đó đem cái kình này từ trong thân thể dẫn xuất ra ngoài. Điều này cũng vô cùng quan trọng. Bởi vì các mạch máu nằm xa tim chúng ta nhất chính là các mạch máu ở đầu ngón tay và đầu ngón chân. Ngón tay chúng ta dẫn kình cũng là một phương diện để dẫn Khí đi tới. Chỉ khi Khí huyết có thể tới nơi, thì Kình của chúng ta mới có thể tới nơi. Nếu như Khí huyết còn không tới được, thì Kình của chúng ta tuyệt đối không thể tới được.
Hàm hung bạt bối (Thu ngực vươn lưng): Ở đoạn trên đã nói về Tùng yêu (thả lỏng eo) và Tọa khoá (ngồi hông). Cột sống của con người chúng ta vốn có hình chữ S, cho nên khi chúng ta có thể làm đúng yêu cầu của eo và hông, thì thực tế các đốt cột sống sẽ được kéo giãn thành một hình cánh cung hơi uốn cong. Do đó trong võ thuật mới có câu: “Thân bối ngũ trương cung” (Thân lưng có năm cánh cung). Cột sống chính là một cánh cung rất quan trọng trên cơ thể chúng ta.
Như vậy đối với phần dưới của toàn bộ cột sống, khi đã Tùng yêu tọa khoá, thì tiếp tục hướng lên phía trên, phần lưng và cổ của chúng ta cũng phải chú ý giữ thành hình dạng một cánh cung. Bởi vậy, điều này được gọi là Hàm hung bạt bối. Vùng lưng của chúng ta phải thông qua một cái Kình để vươn (bạt) thẳng lên phía trên, còn vùng ngực thì phải hơi thu (hàm) nhẹ vào bên trong. Đây cũng là yếu lĩnh động tác có liên quan mật thiết với Trầm kiên (trầm vai).
Đồng thời, dựa trên cơ sở Hàm hung này, mục đích còn là để đem toàn bộ Kình của chúng ta hợp lại làm một, cũng là phương pháp giúp cho hai xương bả vai ở phía sau lưng có thể mở tròn ra, ôm lại trọn vẹn như một vòng tròn.
Hư lĩnh đỉnh kình: Chúng ta nói “thần năng đề, tắc khởi” (thần có thể nâng lên, thì mới phát khởi được). Thận của chúng ta là tiên thiên chi bản (gốc rễ của tiên thiên), thận khí của chúng ta đi lên hoàn toàn phải dựa vào cột sống, rồi sau đó mới đi tới đỉnh đầu, tức huyệt Bách hội. Vì vậy trong Trạm Trang có một yếu lĩnh gọi là Hư lĩnh đỉnh kình.
Vậy Hư lĩnh đỉnh kình thực chất là đang nói về việc huyệt Bách hội của chúng ta hơi nhẹ nhàng hướng lên trên để dẫn dắt (lĩnh) kình đi lên. Vậy tại sao không dùng từ Bách hội thượng đỉnh (Bách hội húc/đội lên) mà lại dùng Hư lĩnh đỉnh kình? Điều đó có nghĩa là trong sự hư vô (không dùng sức cơ bắp) mà tĩnh tâm lĩnh hội cái Kình hướng lên trên đỉnh đầu ấy. Nói cách khác, đó vẫn là năm chữ mà chúng ta thường nhắc tới: “Dụng ý bất dụng lực”. Đem huyệt Bách hội của chúng ta nhẹ nhàng dẫn dắt nâng lên, đồng thời lưu ý hạ ngạc (cằm) phải hơi thu nhẹ vào trong, thì huyệt Bách hội mới có thể hướng lên trên mà nâng dắt trọn vẹn được.
Hai mắt buông rèm (Song mục thuỳ liêm): Trong quá trình Trạm Trang, ánh mắt của chúng ta nếu như hướng theo đường luyện thực chiến, luyện kỹ kích (đối kháng) thì có thể phóng tầm mắt nhìn ra xa, càng xa càng tốt. Nhưng nếu luyện về phương diện dưỡng sinh thì chúng ta có thể Song mục thuỳ liêm. Song mục thuỳ liêm chính là hai mi mắt của chúng ta giống như bức rèm cửa, nhẹ nhàng rủ xuống, giữ cho toàn bộ vùng mày tâm (kẽ giữa hai lông mày) bao gồm cả vùng trán luôn thả lỏng, mắt nhắm nhẹ lại. Cũng có rất nhiều bạn hỏi tôi có cần thiệt để thượng ngạc (lưỡi tựa vòm họng trên) hay không. Thực ra khi mới bắt đầu học Trạm Trang thì chưa cần thiệt để thượng ngạc, nhưng nếu bạn muốn tiếp tục đi sâu hơn, học theo hướng tu hành Đạo gia và góc độ dưỡng sinh thì có thể thử dùng đầu lưỡi chống/tựa nhẹ vào thượng ngạc (vòm họng trên), sau đó hàm răng trên và hàm răng dưới nhẹ nhàng khấu (khớp nhẹ) lại với nhau, giữ cho cơ thịt ở hai bên má cũng hoàn toàn thả lỏng.
Vì sao phải học Trạm Trang?
Người xưa có câu: “Vạn bệnh nguyên vu huyết, bách bệnh khởi vu khí, kinh lạc thông tắc bách bệnh tiêu.” (Muôn bệnh đều bắt nguồn từ huyết, trăm bệnh khởi phát từ khí, kinh lạc thông suốt thì muôn bệnh tiêu tan). Chúng ta chính là nhờ học tập, thông qua hệ thống luyện tập, mới có thể cải thiện các triệu chứng á kiện khang (tình trạng kém khỏe mạnh/suy nhược/亚健康) trên cơ thể, gián tiếp phục hồi và cải thiện các loại bệnh nan y, điều này không phải là không có đạo lý. Chính vì thế, hiệu quả cải thiện của nó quá rõ rệt, nên người xưa mới không muốn để nó bị vùi lấp trong bụi thời gian, để có thể mang lại lợi ích cho nhiều người hơn nữa, mà lưu truyền suốt ngàn năm nay.
Tuy Trạm Trang là một môn công phu “tĩnh trung cầu động, động trung cầu tĩnh” (trong tĩnh tìm động, trong động tìm tĩnh), nhưng chỉ cần thực hành theo tư thế mà thầy hướng dẫn, căn cứ vào thể chất mạnh yếu và bệnh trạng khác nhau mà sắp xếp cho phù hợp. Nói chung, tư thế không nên thay đổi quá nhiều, bởi vì trong trạng thái thần tĩnh khí hòa (thần yên tĩnh, khí điều hòa), tuần hoàn máu bắt đầu tăng tốc. Trong quá trình luyện tập Trạm Trang, lòng bàn tay và lòng bàn chân sẽ nóng lên, không chỉ có tác dụng bổ tim và dưỡng thận, mà còn có thể điều động toàn bộ các huyệt vị và kinh lạc có lợi cho thân thể. Có thể nói: “Nhất trạm thông kinh huyệt, nhất bão kiện khang lai!” (Một lần đứng là thông kinh huyệt, một cái ôm là mang sức khỏe đến!). Phương pháp “ôm trọn sức khỏe” đơn giản ấy đã kết hợp một cách hoàn hảo giữa dưỡng thân và dưỡng tâm. Đừng coi thường động tác “tùy ý đứng thẳng, hai tay vòng ôm, toàn thân thả lỏng” (tuỳ ý trạm lập, song thủ hoàn bão, toàn thân phóng tùng) này, chính nó sẽ giúp con người vô hình trung tạo ra trạng thái dưỡng sinh tối ưu, trực tiếp kích hoạt rất nhiều chức năng của các huyệt vị đặc biệt trên cơ thể:
1. Trong quá trình đứng, vô hình trung điều động được cặp đại huyệt Túc Tam Lý (足三里);
2. Tư thế đứng của bàn chân, điều động được Dũng Tuyền huyệt (涌泉穴);
3. Tư thế hai tay vòng ôm, vừa vặn điều động được Lao Cung huyệt (劳宫穴); 4. Vùng ngực, bụng và lưng được thả lỏng triệt để, lại thông được Nhâm Đốc nhị mạch (任督二脉 – hai mạch Nhâm và Đốc).
(Nguồn: Sưu tầm)